Các quan niệm phân tích kết cấu bê tông ứng lực trước

8:30 CH |
 Hiện nay, việc phân tích cấu kiện bê tông ứng lực trước dựa trên ba quan niệm cơ bản sau:

 Quan niệm thứ nhất:



Quan niệm này coi bê tông ứng lực trước như vật liệu đàn hồi, tính toán theo ứng suất cho phép.

 Bê tông là vật liệu chịu nén tốt, chịu kéo kém. Nếu không phải chịu ứng suất kéo do đã được nén trước thông qua việc kéo trước cốt thép, trong bê tông sẽ không bị xuất hiện vết nứt, như vậy có thể xem như bê tông ứng lực trước là vật liệu đàn hồi. Với quan niệm này, khi bê tông đặt vào trạng thái chịu lực thì ứng suất kéo gây ra do tải trọng ngoại sẽ bị triệt tiêu bởi ứng suất nén trước, nhờ vậy sẽ hạn chế được bề rộng vết nứt và khi vết nứt chưa xuất hiện thì có thể sử dụng các phương pháp của lý thuyết đàn hồi để tính toán.

 Quan niệm thứ hai:



Quan niệm này coi bê tông ứng lực trước làm việc như BTCT thường với sự kết hợp giữa bê tông và thép cường độ cao, bê tông chịu nén và thép chịu kéo và gây ra một cặp ngẫu lực kháng lại mô men do tải trọng ngoài gây ra.

 Nếu sử dụng thép cường độ cao đơn thuần như thép thường thì khi bê tông xuất hiện vết nứt, thép vẫn chưa đạt đến cường độ. Nếu thép được kéo trước và neo vào bê tông thì sẽ có được sự biến dạng và ứng suất phù hợp với cả hai loại vật liệu.

 Quan niệm thứ ba:



 Quan niệm này coi ứng lực trước như là một thành phần cân bằng với một phần tải trọng tác dụng lên cấu kiện trong qua trình sử dụng, tính toán theo phương pháp cân bằng tải trong. Đây là phương pháp khá đơn giản và dễ sử dụng để tính toán, phân tích cấu kiện BTứng lực trước.

 Cáp ứng lực trước được thay thế bằng các lực tương đương tác dụng vào bê tông. Cáp tạo ra một tải trọng ngược lên, nếu chọn hình dạng cáp và lực ứng lực trước phù hợp sẽ cân bặng được các tải trong tác dụng lên sàn, do đó độ võng của sàn tại mọi điểm đều bằng 0.

 Thông thường, hệ kết cấu chịu lực là hệ sàn không dầm kết hợp với cột, vách cứng bố trí tại các vị trí thang máy chịu tải trọng đứng do trọng lực của kết cấu, hoạt tải gồm đồ đạc, người sử dụng và tải trọng ngang do gió hoặc động đất gây ra. Sàn bê tông cốt thép ứng lực trước thường được thiết kế theo phương pháp cân bằng tải trọng với giả thiết lực kéo căng trong cáp (bố trí hình parabol) sẽ cân bằng với tải trọng bản thân cấu kiện, sau đó kiểm tra khả năng chịu tải của sàn trong giai đoạn thi công và sử dụng.



 Các giai đoạn tính toán Có 2 giai đoạn tính toán : giai đoạn đầu và giai đoạn cuối.

+ Giai đoạn đầu Giai đoạn đầu chỉ có tải bản thân: sau khi dựng ván khuôn, thi công công tác thép , công tác định vị mặt đường quỹ đạo cáp(tendon profile) và cuối cùng là thi công đổ bê tông toàn khối. Thời điểm kéo cáp là sau khi bê tông đạt tới 80 % về cường độ, cường độ này là f'ci = 80%f'c hoặc f'ci=t/(α+β.t)*f'c (khoảng 15 ngày). Có thể dùng phụ gia để khoảng 3 ngày là đạt cường độ có thể tiến hành căng cáp. Như vậy cần phải kiểm tra chỉ cho tải trọng bản thân và tải cân băng của cáp theo phương pháp cộng tác dụng.

+ Giai đoạn cuối Là giai đoạn sử dụng, xem như bê tông đạt 28 ngày , tháo ván khuôn và đưa vào sử dụng. Lúc này có LIVE LOAD và SUP LOAD và kiểm tra với f'c ( 28 ngày ) điều này có xét đến tổn hao ứng suất (loss stress) và chú ý rằng Pjack >Pi >Pf (có thể tưởng tượng lực kéo cáp do jack là lực ép cọc Pmax => Ptk = Pmax/2.5 giống coc). Nếu sử dụng phần mềm SAFE, phai nhap tải trọng cân bằng của cáp và mômen thứ cấp. Giai đoạn giới hạn là giai đoạn U-Stage lúc đó Mtotal = 1.4 (deal+sub) +1.7 live+ Msc(momen phụ) + Mearthquake (trường hợp lấy theo ACI).

 Mô hình tính toán sàn chịu tải trọng ngang Ở 1 số nước mà đã phát triển lâu và rộng (như australia) khi tính toán thì giả thiết rằng khi sàn chịu tải trọng ngang do gió hoặc động đất truyền vào (các tải trọng ngắn hạn) thì khi thiết kế họ coi sàn là tuyệt đối cứng (Vách cứng sàn) không chịu ảnh hưởng của tải trọng ngang khi chu kỳ dao động của toàn nhà T 3s (hoặc 5s) thì họ có xu hướng bổ sung dầm vào trong hệ kết cấu để tăng độ cứng cho tòa nhà, có thể là dầm thường hoặc dầm bẹt (có hoặc không có ứng lực trước). còn đối với tải trọng ngang dài hạn (ví dụ như sàn tầng hầm, sàn tầng bán hầm có một mặt tiếp xúc với tường chắn đất...) thì khác hoàn toàn, bất kể chu kỳ như thế nào thì cũng không thấy đề cập đến việc tải trọng ngang ảnh hưởng gì đến sàn, mà họ thường có các biện pháp thi công sao cho không xuất hiện ứng suất phụ tác động trực tiếp và sàn. Mô hình tính toán sàn chịu tải trọng đứng Sàn ứng lực trước có thể tách riêng ra để tính với tải trọng đứng.

 Có hai phương pháp mô hình hóa sàn khi chịu tải trọng đứng là phương pháp phân phối trực tiếp ( DDM ) và phương pháp Khung tương đương ( EFM ). Nếu công trình có nhịp đều nhau và đảm bảo yêu cầu để tính khung tương đương thì chỉ cần chọn dải trên cột có chiều dài bằng chiều dài nhịp để tính và kiểm tra theo khung tương đương. Nếu mặt bằng phức tạp thì có thể dùng phần mềm (ví dụ như SAFE, Adapt PT - thường dùng để tính toán sàn phẳng + ứng suất trước là ADAPT PT, cho kết quả nhanh và dễ kiểm soát)để tính ra nội lực sàn và chia dải tính theo biểu đồ moment, hoặc chia dải theo mặt bằng sàn. Sau đó tính toán và kiểm tra cho từng dải theo nội lực đã tính toán.

 Sự phân phối Moment uốn của sàn phẳng khác sàn dầm: không phải đồng đều trên toàn sàn mà tập trung phần lớn ở dải trên cột. (một số tiêu chuẩn nước ngoài quy định điều này, ví dụ như BS8110 Section 3, mục 3.7). Khi tính toán thì có chia ra column strip (dải đầu cột) và middle strip (dải ở nhịp). Bề rộng column strip thường là 1/2 nhịp ngắn. 2/3 moment tại column strip lại tập trung ở giữa, rộng = 1/2 column strip. Dự kiến khoảng ( 65-75 ) % Moment theo mỗi phương được truyển bởi các dải trên cột . Bề rộng của dải trên cột được lấy sao cho một nữa bề rộng của dải trên cột ở về mỗi phía của cột lấy bằng ¼ nhịp ngắn của Sàn . Theo ACI 318 quy định : Chọn khoảng cách giữa các cáp ứng lực trước trong dải trên cột vào khoảng ( 3 - 4 ) chiều dày bản ; và khoảng cách tối đa giữa các cáp ứng lực trước ở dải giữa nhịp không vượt quá 6 lần chiều dày bản .


darthtuan-VNbuiding

Chú trọng vật liệu khi xây tầng hầm để hạn chế nồng độ khí carbon

11:37 SA |
Theo các chuyên gia, hầm nhà có cấu trúc tương tự hầm mỏ nên có thể có khí radon gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người ở. Vì thế, cần biết cách phòng tránh ngay từ khi xây dựng nền móng.

Tiềm ẩn khí radon trong tầng hầm!



Anh Nguyễn Văn Hoàng (Lĩnh Nam, Hà Nội) cho biết, nhà anh mới xây nhà mới với kiến trúc hiện đại dùng tầng hầm làm nơi để xe và bếp cũng như phòng ăn. Phía dưới hầm anh có đặt thêm một chiếc giường con để ngủ khi có khách. Thế nhưng, mỗi lần ngủ dưới đó anh đều có chung một cảm giác là rất mệt mỏi, đau đầu và ho.



Anh Đinh Nhật Ninh (Ba Đình, Hà Nội) hiện đang làm nhân viên trông giữ xe tại tầng hầm một tòa nhà cao tầng. Anh cho biết, trong tầng hầm rất bức bí khó chịu, khí xe thải ra hằng giờ đã khó chịu, tầng hầm lại kín, quạt thông gió công suất thấp khiến nhân viên ở đây lúc nào cũng mệt mỏi, khó thở.



Theo TS Nguyễn Hào Quang, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và ứng phó sự cố (Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ hạt nhân), ngày càng nhiều gia đình thiết kế nhà có tầng hầm để sinh hoạt hoặc làm khu vực để xe nhưng việc khảo sát khí radon tại các tầng hầm này vẫn chưa được chú trọng. "Nồng độ khí radon được đo tại hầm mỏ khá cao, trong khi đó hầm nhà cũng có kết cấu tương tự hầm mỏ. Vì thế, nguy cơ tiềm ẩn khí radon cũng như khí thải cao trong các tầng hầm cần được chú ý để phòng tránh", TS Quang cho hay.



Nguyên nhân tiềm ẩn khí radon trong hầm có thể cao do nhiều nguyên nhân như vùng đất làm nhà tích lũy khí radon cao, vật liệu xây nhà có nồng độ không hợp lý, kiến trúc nhà không thông thoáng...



Sử dụng vật liệu đã được kiểm nghiệm phóng xạ



Theo các chuyên gia phóng xạ, để hạn chế khí radon khi làm tầng hầm không hề khó khăn và cần kiểm tra ngay từ khâu bắt đầu làm nền móng. Cụ thể, cần kiểm tra xem vùng đất định làm nhà có nồng độ khí radon bình thường hay là cao bằng các máy đo bức xạ. Nếu ở mức bình thường chỉ cần phòng tránh đơn giản, còn nồng độ cao cần loại bỏ bằng các cách như khí radon không thể đâm xuyên qua nhựa plastic. Vì thế, khi đào hầm cần có lớp che phủ ngăn chặn khí này xuyên vào nhà bằng tấm chắn plastic.



Còn KTS Nguyễn Tiến Hùng, Công ty Cổ phần đầu tư Phú Lộc cho rằng, khi xây nhà, nhất là tầng hầm cần chú trọng vật liệu. Nên lựa chọn các loại vật liệu đã được kiểm nghiệm phóng xạ. Hiện nay, Bộ Xây dựng đã có quy định phải thử nghiệm cũng như cho biết nồng độ khí radon trong các vật liệu xây dựng. Ví dụ, cát có nhiều loại nhưng cát ở vùng sa khoáng sẽ có nồng độ khí này cao hơn khoảng 10 lần so với cát thường. Nếu không sử dụng cát đúng quy định vô tình rước khí radon vào nhà.



Ngoài ra, khi xây dựng tầng hầm cần chú trọng đến việc lắp đặt hệ thống đối lưu, quạt hút gió để không khí thoáng đãng. "Nhà tầng hầm thường dùng để xe vì thế không chỉ ảnh hưởng bởi khí tự nhiên mà còn khí thải. Nếu không thoáng đãng, khí thải cũng khiến người ở bị thiếu oxy, khó thở.



Vì thế, cần lắp đặt hệ thống cửa thoáng cả về ánh sáng lẫn không khí. Lắp quạt hút gió công suất lớn nhưng chạy êm để hạn chế tiếng ồn vì tầng hầm sẽ vang hơn tầng trên không, quạt đảm bảo chạy nhiều giờ trong ngày để thoát khí", KTS Nguyễn Tiến Hùng chỉ rõ.



Khí radon là khí tự nhiên, ở mức cao có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người, cụ thể là các hạt alpha phát ra từ radon sẽ phá hủy các tế bào của cơ thể con người một khi nó được phát ra từ bên trong cơ thể của chúng ta. Khí radon là một trong các nguyên nhân gây bệnh ung thư phổi hiện nay.

xaydungvietnam.vn - Theo KH&ĐS

Thiết kế, lắp đặt hệ thống dây trong nhà

11:35 SA |
Trước đây, hễ nói đi dây là mọi người nghĩ ngay tới dây điện. Nhưng bây giờ thì đi dây còn bao gồm cả điện thoại, ADSL, truyền hình cáp... Hệ thống dây mà có vấn đề thì nhà ở cũng rối theo. Mà đi không cẩn thận thì rất dễ rắc rối...



Từ những puli sứ…



Hình ảnh những chiếc puli sứ trên tường, trên trần nhà là hình ảnh quen thuộc cho tới những năm 90 của thế kỷ trước. Đó là cách thức định vị dây trên bề mặt, cũng là giải pháp cách điện. Hồi đó những vật tư, vật liệu điện… đều thiếu thốn và lạc hậu. Puli sứ và hệ thống dây điện đi trên bề mặt kiến trúc trở thành một trong những hình ảnh điển hình của một thời kỳ khó khăn; và cũng trở thành ký ức của nhiều người.



Sau đó là kiểu đi dây bằng ống ghen nổi. Kiểu này hệ thống dây vẫn nằm trên bề mặt tường, trần nhưng các dây nằm trong ống nên trông thẩm mỹ hơn. Có hai loại ống: loại ống tròn và loại hộp (tiết diện hình chữ nhật). Loại ống tròn được thi công với cách luồn dây vào trong lòng ống rồi định vị ống trên bề mặt. Cách làm này tương đối vất vả và khó xử lý ở những khúc cua. Ống ghen hộp được cải tiến khá thuận tiện cho việc lắp đặt. Ống gồm hai thành phần: phần đế ống hình chữ U được định vị trên tường, trần theo hướng đi của dây trước; sau đó đi dây vào lòng “chữ U” rồi úp nắp (cũng hình chữ U) lên. Đây là một giải pháp rất hay, tiện dụng, dễ tháo lắp sửa chữa, bổ sung. Đương nhiên, giải pháp này vẫn kém thẩm mỹ do hệ thống ống lộ trên bề mặt tường, trong phòng. Tiếp nữa, với sự ra đời của những loại dây dẫn chất lượng cao; công trình xây dựng cũng được đầu tư nhiều hơn cho trang thiết bị kỹ thuật, thẩm mỹ cũng được đòi hỏi cao hơn; hệ thống dây dẫn được chôn vào trong tường (còn gọi là đi âm tường, đi dây chết). Giải pháp này đến nay vẫn rất phổ biến ở các công trình nhà ở dân dụng, kể cả những nhà ở hiện đại, được đầu tư tương đối…



Giải pháp mới hiện đang được ứng dụng nhiều là giải pháp đi ống cứng, hay còn gọi là giải pháp dây rút sau. Đây là một giải pháp có nhiều ưu điểm về kỹ thuật, mỹ thuật, tính linh hoạt cũng như an toàn. Tuy nhiên giải pháp này có giá thành cao và cũng đòi hỏi nhân lực có trình độ cao. Giải pháp này là chôn trước, định vị những ống nhựa cứng âm tường, sàn, trên trần về đúng các vị trí mặt hạt công tắc, ổ cắm, vị trí thiết bị (đèn, quạt)… Sau đó mới luồn dây theo các ống đó trong giai đoạn sau – thường là giai đoạn hoàn thiện công trình.



Không chỉ có điện



Kiểu đi dây chôn tường truyền thống (đi dây chết).
Khi nói về thiết kế công trình, hay tiến trình thi công; ta hay nhắc đến cụm từ “điện – nước”. Đó là một nội dung của thiết kế kỹ thuật, một hạng mục trong giai đoạn thi công. Nhưng gần đây trong các hồ sơ thiết kế, “điện – nước” ít khi nằm cùng nhau (dù không phủ nhận là có những liên quan nhất định). Bởi đơn giản là có những hạng mục mới liên quan đến điện nhiều hơn nên phải gộp vào, đó là các hệ thống thông tin; tạo thành một cụm từ “điện – chiếu sáng - thông tin”



Có thể kể sơ qua các hệ thống thông tin đã trở thành rất bình thường, là yêu cầu tối thiểu với công trình nhà ở: đó là hệ thống điện thoại cố định, hệ thống tín hiệu tivi (antenna, truyền hình cáp), hệ thống internet (có dây, không dây), các hệ thống thông tin nội bộ khác… Bên cạnh đó, chiếu sáng cũng trở thành một nội dung có thiết kế riêng do yêu cầu thẩm mỹ nội thất và chất lượng kỹ thuật chiếu sáng ngày càng cao. Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình sử dụng hệ thống điều khiển tự động (vẫn thường được gọi là “nhà thông minh”). Để sử dụng được hệ thống này, cũng cần một hệ thống dây thông tin nhất định (kết hợp với các dạng điều khiển không dây). Như vậy, nói đến điện, và “đi dây điện” trong công trình bây giờ, không chỉ là điện chiếu sáng (cho đèn) và điện động lực (ổ cắm thiết bị), mà bao hàm cả hệ thống thông tin. Một số hệ thống hay thiết bị khác có thể tách rời nhưng cũng liên quan đến điện và chỉ vận hành được khi có điện như hệ thống điều hoà – thông gió, bình đun nước nóng…



Đi dây – dễ rối!



Về lý thuyết, đi dây phải có nguyên tắc. Thế nhưng trong thực tế lại lắm chuyện buồn cười, bởi nhiều lý do… Có khi là bởi trình độ của thợ điện, có khi là do cách thức làm việc bất cẩn, chủ quan – coi thường, có khi là vô nguyên tắc, có khi là những chuyện khách quan khó lường… Chuyện công tắc đèn cầu thang (về nguyên tắc là công tắc đảo chiều) chỉ bật/ tắt được một phía, do đi thiếu dây; có thể là trình độ, cũng có thể là sự thiếu trách nhiệm. Chuyện này rất cũ nhưng vẫn thường xuyên xảy ra. Lại có chuyện trên bức tường có cái đèn rọi, theo thiết kế dưới đó là bức tranh. Khi chủ nhà khoan vít treo tranh thì bỗng dưng “bụp”, cả nhà tối om. Thì ra anh thợ đi dây từ dưới lên trên, nên khi khoan bị khoan đúng vào dây, gây đoản mạch. Chuyện nữa: có anh thợ đi cáp ngầm vào sàn từ khi đổ bêtông, nhưng lại không đi song song, vuông góc với các cấu kiện để dễ định vị mà đi chéo cho ngắn và “tiện”. Mọi việc ổn cho đến khi thợ trần đến khoan cho một mũi vào trần bêtông (để treo xương trần) đụng luôn dây điện, thế là đành bỏ cả hệ thống dây điện đó không dùng được (vì không thể đục sàn bêtông để nối dây).



Giải pháp đi dây ống cứng (dây rút sau)
Lại nữa, có thợ đi dây theo kiểu của riêng mình, chả giống ai, chả theo nguyên tắc, tiêu chuẩn nào; miễn đảm bảo khi nghiệm thu là bật đèn đèn sáng, bật quạt quạt quay…; nhưng về sau khi gặp sự cố mà không gọi được chính thợ này thì chủ nhà đến khốn khổ, bởi bản vẽ hoàn công cũng không có.



Một chuyện khá thú vị gần đây rất hay gặp, kể cả với các công trình mới xây hiện đại. Đó là việc nâng cấp hay bổ sung các hệ thống thông tin, truyền hình. Việc đấu nối đường internet đường truyền tốc độ cao (ADSL) thay cho kết nối dial up với modem quay số, dùng chung với đường điện thoại cũ đã là điều tất yếu với mọi người, mọi nhà. Nhưng để ADSL vào tới nhà thì phải qua một sợi dây, đó là vấn đề, khi không biết dây sẽ chui qua cửa chính, cửa sổ, hay ban công, vào phòng nào? Cũng tương tự với các hệ thống truyền hình cáp ngày càng phong phú bởi nhiều nhà cung cấp. Đang có cáp thường muốn xem bóng đá “độc quyền” phải thêm dây. Hoặc có khi một không gian chuyển đổi chức năng, ví dụ phòng ngủ (không có internet) chuyển thành phòng làm việc cần cổng internet, phải kéo từ phòng khác sang.



Ở những trường hợp này, hệ thống dây điện, dây thông tin đi ống cứng là một ưu điểm tuyệt đối. Với hệ thống này có thể điều chỉnh đấu nối, thay thế, bổ sung, hoặc loại bỏ những sợi dây đã hết chức năng, nhiệm vụ.



Vai trò quan trọng và thầm lặng



Hệ thống dây điện và dây thông tin ngày càng ẩn giấu, ngày càng kín đáo; nhưng vai trò của nó lại càng quan trọng hơn. Thiết bị cũng như internet đang chi phối mạnh đời sống và công việc. Tất cả những thứ đó đều cần đến điện. Một hệ thống điện – chiếu sáng – thông tin được thiết kế và thi công hợp lý, bài bản, nguyên tắc không những làm cho việc sử dụng, vận hành thuận tiện mà còn làm cho quá trình hoạt động lâu dài được an toàn và bền vững.

xaydungvietnam.vn - Theo SGTT

Điều chỉnh cơ chế về vốn đầu tư xây dựng dự án nhà ở sinh viên

5:13 SA |
Theo Quyết định 70/2010/QĐ-TTg vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, sẽ có một số điều chỉnh liên quan đến nguồn vốn đầu tư xây dựng các dự án nhà ở sinh viên từ ngân sách nhà nước.


Dự kiến, đến cuối năm 2011 sẽ có thêm 40 dự án nhà ở sinh viên được hoàn thành.
Quyết định này sửa đổi bổ sung Điều 4 của Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thuê.


Theo đó, thay vì chỉ chi cho công tác xây lắp (như quy định tại Quyết định 65/2009/QĐ-TTg), vốn trái phiếu Chính phủ sẽ được dùng để chi cho các khoản sau: chi phí xây dựng và thiết bị gắn liền với công trình nhà ở; chi phí quản lý dự án và chi phí tư vấn đầu tư xây dựng của dự án.


Đồng thời, quy định mới (Quyết định 70/2010/QĐ-TTg) nêu rõ, vốn ngân sách hàng năm của các địa phương và các Bộ, ngành hoặc vốn đầu tư phát triển của cơ sở đào tạo để chi cho các khoản: chi phí thiết bị nội thất và chi phí dự phòng của dự án (quy định cũ chỉ nêu là nguồn vốn này để đầu tư xây dựng cơ bản cho giáo dục, đào tạo).


Vốn ngân sách địa phương (từ nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất để lại cho địa phương...) vẫn sẽ dùng để bảo đảm chi cho các khoản: chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất xây dựng dự án nhà ở sinh viên trên địa bàn.


Trường hợp địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương có các trường do trung ương quản lý trên địa bàn với số sinh viên có nhu cầu về nhà ở lớn (trên 10.000 sinh viên), nhưng có khó khăn về nguồn vốn để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất cho các dự án phát triển nhà ở sinh viên được xem xét, hỗ trợ một phần từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.


Những quy định mới (nêu trên) sẽ được thực thi từ ngày 23/12/2010.


Tính đến thời điểm này, trong 251 khối nhà ở cho sinh viên đã khởi công xây dựng từ năm 2009 và đầu năm 2010 tại 94 dự án trên toàn quốc, đã có 94 khối nhà 5 đến 7 tầng hoàn thành bàn giao, đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho khoảng 70.000 sinh viên. Theo kế hoạch từ nay đến cuối năm sẽ có thêm 82 khối nhà thuộc 40 dự án xây dựng nhà ở cho sinh viên được hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho khoảng 80.000 sinh viên.


Dự kiến, đến cuối năm 2011 sẽ có thêm 40 dự án nhà ở sinh viên được hoàn thành.


Đặc biệt, năm 2012 sẽ hoàn thành 7 dự án nhà ở sinh viên tập trung có quy mô lớn tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hải Dương, Ninh Bình và Thanh Hóa.
Theo : www.chinhphu.vn

Xây Dựng Nhà 3D Panel Tại Việt Nam!

6:41 SA |


Thông tin!









Giao hàng miễn phí trong nội thành cho đơn hàng trên 200.000đGiao hàng miễn phí trong nội thành cho đơn hàng trên 200.000đ
































Nhớ Nhanh Trọng Lượng Thép!

8:29 SA |
Bạn chỉ nhớ duy nhất:                Thép fi 6 : 0.222 Kg/mdài





Sau đó: 

Thép fi 8: 0.222*8*8/36 = 0.395Kg/mdài

Thép fi 10: 0.222*10*10/36

Thép fi 12: 0.222*12*12/36

hoặc:

Chỉ cần nhớ trọng lượng thép trên một met dài của mấy loại thép là xong. Còn tổng thì bấm cái máy tính trên điện thoại hay nhẩm cũng ra nhanh thôi.

Ví dụ :

Thép fi 6 : 0.222 Kg/mdài

Thép fi 8 : 0.395 Kg/mdài

Thép fi 10 :0.617 Kg/mdài . 1 cây thép dài 11,7 m = 7.3 Kg

Thép fi 12 : 0.888 Kg/mdài 1 cây thép dài 11,7 m = 10.4 Kg

Thép fi 14 : 1.208Kg/mdài 1 cây thép dài 11,7 m = 14.1 Kg

Thép fi 16 : 1.578Kg/mdài 1 cây thép dài 11,7 m = 18.5 Kg

Thép fi 18 : 1.998Kg/mdài 1 cây thép dài 11,7 m = 23.4 Kg

Thép fi 20 : 2.46Kg/mdài. 1 cây thép dài 11,7 m = 28.8 Kg

Nói chung khi làm xây dựng và dân thi công thì phải nhớ mấy cái lẻ tẻ này, thật a đâu có bao nhiêu đâu, làm hoài rồi nhớ dễ như thuộc lòng vậy.

Vách ngăn chia tách không gian

4:52 SA |







Chia tách không gian bằng vách ngăn.
Để phù hợp với diện tích hẹp của nhà phố và khí hậu nhiệt đới, nhiều kiến trúc sư đã sử dụng không gian mở trong thiết kế. Trong trường hợp đó, các vách ngăn được sử dụng như một giải pháp phân chia không gian nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng.









Vách ngăn nhiều chức năng, vừa để ngăn cách không gian, vừa được sử dụng làm bàn bếp. Những khoảng trống dưới bàn tạo sự thông thoáng.




Vách lửng thấp càng làm cho góc nhỏ này trở nên dễ thương, là nơi thư giãn, đọc sách ngay khu vực cầu thang. Vách ngăn ở đây không phá vỡ bố cục của cầu thang mà tăng thêm góc nhìn đẹp khi ngồi từ phía salon.




Từ cửa bước vào, vách ngăn này trông như một khung cửa tạm, vừa trang trí vừa tạo sự kín đáo vốn có cho nơi sinh hoạt ăn uống theo phong tục của người Việt Nam. Sự thông thoáng của căn phòng không vì thế mà giảm bớt.




Đối với những ngôi nhà làm văn phòng, vách ngăn kiểu này không chỉ làm tay vịn mà còn có tác dụng chắn tầm nhìn, giúp các nhân viên làm việc tập trung hơn. Nó cũng góp phần tăng nét thiết kế độc đáo cho căn phòng.




Để căn phòng đỡ chật, bức vách ngăn giữa cầu thang và phòng khách này đã được trổ hai ô trống, tương tự khung cửa sổ và cửa ra vào. Không gian thông thoáng hơn và cũng khá đặc biệt.




Giữa không gian cầu thang và bếp được bố trí vách ngăn chia tách không gian hợp lý. Đây còn là nơi bày biện đồ trang trí lý tưởng, thích hợp với các đồ vật bằng gốm sứ và các bức tượng cổ.




Để ngăn cách nơi để xe và tiếp khách, không gì hợp lý hơn là một bức cách chạy dài với các ô vuông trang trí, tách biệt hai khu vực một cách rõ ràng. Sự tách biệt về độ cao càng nhấn mạnh thêm sự phân biệt này.






(Theo SGTT) 

Sàn Bê Tông Nhẹ

8:23 SA |
Hệ thống sàn nhà được lắp dựng bằng cấu kiện dầm bê tông dự ứng lực cường độ cao đúc sẵn và các viên Block đã được sản xuất, ứng dụng rộng rãi tại vùng khí hậu nóng Miền Nam nước Pháp, các nước Nam Âu và Bắc Phi giáp Địa Trung Hải



Hệ thống sàn nhà được lắp dựng bằng cấu kiện dầm bê tông dự ứng lực cường độ cao đúc sẵn và các viên Block đã được sản xuất, ứng dụng rộng rãi tại vùng khí hậu nóng Miền Nam nước Pháp, các nước Nam Âu và Bắc Phi giáp Địa Trung Hải. Năm 1997 dây chuyền công nghệ sản xuất các loại dầm và viên Block sàn đã được hãng PPB Internationnal (Cộng hoà Pháp ) chuyển giao cho Tổng công ty Xuất nhập khẩu Xây Dựng Việt Nam - Vinaconex thông qua dự án hỗ trợ kĩ thuật giữa tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (UNIDO) và Bộ Xây dựng nước CHXHCN Việt Nam. Dầm bê tông dự ứng lực cùng các viên Block sàn với các loại kích cỡ hình học khác nhau và sức chịu tải tuỳ theo nhu cầu thiết kế đã được Công ty Cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai sản xuất hàng loạt theo tiêu chuẩn CCBA68, NFP14 và NFP13-032 của Cộng hoà Pháp từ những năm 1997-1998. Đến nay, hàng chục ngàn m2 nhà đã được đại lý của Công ty - Nay là Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Hiệp thi công và lắp đặt bằng cấu kiện này tại Thị trấn Xuân Mai, vùng Chương Mỹ - Hà Tây, Hoà Bình, Việt Trì, Hải Phòng ...và các vùng lân cận. Đặc biệt là Hà Nội nơi có nhiều phố, ngõ nhỏ hẹp không thuận tiện cho việc thi công tại chỗ.



Các tiêu chuẩn gốc của Pháp đã được các cơ quan chức năng của nhà nước Việt Nam và Bộ Xây dựng cho phép áp dụng và chuyển thành tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam-TCXD235-1999.



Hệ thống sàn nhà bằng kết cấu dầm PPB và viên Block sàn mang tính ưu Việt, kết hợp sức chịu tải của dầm bê tông dự ứng lực cường độ cao đúc sẵn với khả năng cách âm, cách nhiệt và có trọng lượng nhỏ do cấu tạo rỗng của các viên Block sàn cùng với lớp bê tông lưới thép phủ đã tạo nên hệ thống sàn hoàn hảo.



Thời gian thi công sàn nhanh, mặt bằng thi công gọn, sạch, hạn chế tối đa việc dùng các vật liệu rời nên tránh được bịu và ô nhiễm môi trường, chi phí giảm so với sàn đổ tại chỗ do không cần phải sử dụng cốp pha, dàn giáo thi công.



Cấu kiện dầm sàn rất gọn nhẹ, có thể vận chuyển và lắp bằng tay nên rất phù hợp cho việc xây dựng kể cả những ngôi nhà nằm xen kẽ trong các khu phố, ngõ hẹp của Thủ đô.



HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÀN PANEN PPB



Sử dụng Panen làm sàn trong nhà:

Quy cách: Sàn thường có độ dày 160mm: Chiều dày dầm và gạch là 120mm, chiều dày bê tông trên lớp gạch là 40mm (bê tông mác 200)....



I.Sử dụng Panen làm sàn trong nhà:



- Quy cách: Sàn thường có độ dày 160mm: Chiều dày dầm và gạch là 120mm, chiều dày bê tông trên lớp gạch là 40mm (bê tông mác 200).



- Sau khi đổ bê tông chừng một ngày sau, phải tưới nước thường xuyên giữ cho bề mặt luôn ẩm, nhất là những nơi thoáng gió bị ánh nắng chiếu vào.



- Sau khi đổ bê tông được 2 - 3 ngày (trời lạnh là 3 ngày)mới có thể đi lại và làm các công việc nhẹ trên sàn, tránh để vật liệu thành đống trên sàn.



- Với trần phía dưới sàn: Do giữa dầm và gạch Block có khe hở nhỏ 5 -7cm, nên trước khi trát phải dùng bay nhỏ trét các khe hở này bằng vữa xi măng. Sau khi làm đầy các khe hở này mới tiến hành trát trần.



- Do trần phẳng, bề mặt gạch nhám nên rất dễ trát, lớp vữa trát mỏng từ 5 – 7mm.



- Với các cột chống trong nhà, sau 3 -5 ngày có thể dỡ chống được. Với các ban công, ô văng phải chờ sau 7 -10 ngày mới được dỡ chống (tuỳ độ dài đua ra).



- Các côp pha bao quanh có thể dỡ sau khi đổ bê tông 1 ngày.



II.Sử dụng panen làm mái (chịu mưa nắng):



- Quy cách: Độ dày của sàn mái thường là 170mm: Chiều dày dầm và gạch là 120mm, chiều dày bê tông trên lớp gạch là 50mm (bê tông mác 200).



- Sau khi đổ bê tông xong, phải thường xuyên bảo dưỡng bằng cách tưới nứơc. Sau một ngày cần xây gạch cao 100 bao quanh mái, tiến hành bơm nước cho sàn ngập nước độ 5 -7 cm, hoà xi măng với nước tỷ lệ 4kg xi măng/1m3 nước khuấy đều cứ 3 giờ lại khuấy 1 lần.



- Trong quá trình thi công, do bất cẩn nên có chỗ không đầm kỹ, còn lỗ rỗng, khi ngâm nước, nước sẽ chảy thành giọt qua lớp sàn. Với chỗ nào thấm, ta hoà thêm xi măng cho chỗ đó và khuấy đều, xi măng sẽ bịt kín các lỗ rỗng, nước sẽ không ngấm được nữa.



- Nếu không xử lý được nên gọi ngay cho bên thi công.



- Sau khi ngâm nước độ 3-5 ngày, mái không thấm, trần mái khô, ta tháo nước và tiến hành lát lớp gạch lá nem (20x20.1,5) trên mái để che lớp bê tông không bị ánh nắng chiếu trực tiếp có thể gây nứt mái và thấm dột (nhất thiết phải làm).



- Thi công trát trần như đã ghi ở phần I.



- Để đảm bảo kéo dài tuổi thọ cho sàn và mái panen yêu cầu chủ nhà thực hiện đúng các chỉ dẫn trên.

Các Bước Xây Nhà Dân Dụng Đến Hoàn Thiện

7:14 SA |
Giải quyết vấn đề: Để độc giả dễ theo dõi và có tính hệ thống, tôi xin được liệt kê các công việc theo từng bước: 

Bước 1: Tìm mua đất xây dựng

Bước 2: Chuẩn bị các thủ tục pháp lý

Bước 3: Chọn nhà tư vấn thiết kế xây dựng

Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ xây dựng, lựa chọn nhà thầu xây dựng

Bước 5: Các thủ tục cúng lễ chuẩn bị khởi công

Bước 6: Chuẩn bị mặt bằng, làm nền móng

Bước 7: Xây dựng phần khung nhà

Bước 8: Giai đoạn hoàn thiện

Bước 9: Sản xuất, lắp đặt nội thất

***********


Bước 1: Tìm mua đất xây dựng



- Đây là một bước khá quan trọng, nhất là đối với một đất nước phương Đông ảnh hưởng nhiều bởi văn hoá Trung Quốc, là cái nôi của nghệ thuật phong thuỷ. Một khu đất đẹp, đúng hướng, rất có tác dụng trong việc nâng cao giá trị sống, tăng cường tuổi thọ.



- Trong phong thuỷ, người ta quan niệm "Trạch mệnh phải tương phối". Trạch ở đây là đất, mệnh là người, trạch mệnh tương phối nghĩa là đất và người phải hoà hợp với nhau, không xung khắc. Trong trạch có hai loại là Đông tứ trạch và Tây tứ trạch. Người cũng gồm hai nhóm là Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh. Quan niệm phong thuỷ cho rằng, người Đông tứ mệnh thích hợp ở khu đất Đông tứ trạch và ngược lại, người Tây tứ mệnh thì thích hợp ở khu đất Tây tứ trạch. Mệnh của người phụ thuộc vào tuổi, trạch của đất phụ thuộc vào hướng.



- Trong phong thuỷ, người ta cũng quan trọng về hình thế đất. Khu đất phải nằm ở vị trí đẹp, bằng phẳng, phía tả là thanh long, hữu là bạch hổ, lưng phải "tựa sơn", mặt phải "hướng thuỷ". Đất phải nở hậu (chiều rộng đất phía sau to hơn phía trước). Phía trước mặt không nên có cột điện, cây, hay con đường cắm thẳng vào khu đất, cũng không tốt. Các quy định này thực tế khá phong phú, nên cần có một chuyên gia đến xem và hướng dẫn cụ thể mới có thể lựa chọn chính xác được.



- Ngoài yếu tố phong thuỷ, việc mua đất còn cần cân nhắc đến nhiều yếu tố nữa: khu đất nên ở trong khu vực có dân trí cao, điện nước đầy đủ, đường rộng hè thoáng, ô-tô có thể vào được, ... Và yếu tố quan trọng nhất là giá đất phải hợp lý.



- Một yếu tố nữa cũng không kém phần quan trọng là các yếu tố pháp lý. Cần thận trọng không mua phải khu đất nằm trong diện quy hoạch giải toả. Tốt nhất nên mua đất đã có sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hợp pháp để tránh tranh chấp, và dễ dàng hơn cho việc giải phóng đền bù nếu xảy ra. Khi mua đất, cần thận trọng trong các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua đất: hợp đồng cần có chữ ký xác nhận của cả chồng lẫn vợ (bên bán) để tránh tranh chấp về tài sản sau này, hợp đồng phải có xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước, ...



- Một vấn đề tác giả cũng gặp nhiều trong quá trình hành nghề của mình, đó là các khu đất nằm trên các khu vực ao hồ lấp, địa chất nền đất yếu. Khi mua đất, chủ nhà thường không để ý tìm hiểu kỹ về vấn đề này. Việc địa chất nền đất yếu dẫn đến rất tốn kém về chi phí gia cố nền đất. Chi phí ép cọc bê tông cốt thép (là biện pháp gia cố phổ biến nhất hiện nay) thường phải từ 50 - 100.000.000 đồng.



Bước 2: Chuẩn bị các thủ tục pháp lý và khảo sát khu đất xây dựng



- Để được phép xây dựng, phải đảm bảo đủ các điều kiện: khu đất phải được cấp sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), và được cấp phép xây dựng.



- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.



- Xin cấp giấy phép xây dựng cần phải có một bộ hồ sơ thiết kế xin phép xây dựng của một đơn vị có tư cách pháp nhân và có chứng chỉ hành nghề tư vấn thiết kế công trình. Chủ nhà không thể tự chuẩn bị được bộ hồ sơ này, mà phải có nhà tư vấn thiết kế xây dựng hợp pháp chuẩn bị giùm. Xin xem thêm ở bước 3 dưới đây.



- Đối với nhà xây trên 3 tầng và diện tích xây dựng trên 300m2, nên tổ chức khảo sát địa chất công trình trước khi thi công với mục đích là thu thập tài liệu về các lớp đất, các đặc trưng kết cấu để làm cơ sở tính toán cấu tạo móng cho phù hợp và lựa chọn các biện pháp thi công. Việc khảo sát địa chất công trình được thực hiện thông qua quy trình khoan thăm dò. Đơn vị chuyên môn sẽ sử dụng máy khoan thăm dò khoan sâu vào lòng đất, khoảng từ 12-15m, sau đó tiến hành các thủ tục cần thiết như tạo mẫu thử, nén thử, ... rồi lập ra một bộ hồ sơ khảo sát nền đất hiện trạng. Bộ hồ sơ này là cơ sở quan trọng để các đơn vị tư vấn thiết kế xây dựng tính toán chính xác được hệ khung kết cấu của căn nhà.



Bước 3: Chọn nhà tư vấn thiết kế xây dựng



- Không có một nhà tư vấn thiết kế xây dựng, chủ nhà thực tế vẫn có thể xây được nhà. Ngay cả việc chuẩn bị hồ sơ xin phép xây dựng ở bước 2 cũng có thể thuê một đơn vị tư vấn để lập. Tuy nhiên, vai trò của một nhà tư vấn đối với một công trình xây dựng thì nhiều hơn thế.



- Thuê một nhà tư vấn thiết kế cho căn nhà của mình, chủ nhà được gì ? Trước tiên, họ sẽ có một mặt bằng cơ cấu toàn bộ nhà được tổ chức chặt chẽ và mạch lạc, phù hợp với công năng và yêu cầu sử dụng của tất cả các thành viên trong gia đình. Mặt bằng đó sẽ tận dụng được tối đa diện tích để ở, sinh hoạt, giao thông đi lại, có các giếng trời, khoảng thông tầng để lấy ánh sáng và thông thoáng cho các khu vực bí, thiếu sáng. Mặt bằng đó sẽ tạo ra các không gian ở rộng rãi, vuông vắn, biến các khoảng lồi lõm, xấu xí của tường, cột thành các khoảng âm tường để tủ quần áo, tủ đồ, tủ trang trí một cách hợp lý. Mặt bằng đó được đan xen vào những khoảng xanh của cây cảnh, làm mềm mại hơn các đường nét kiến trúc khô khan,...



- Thuê một nhà tư vấn thiết kế cho căn nhà của mình, chủ nhà được gì ? Họ còn được một hình thức mặt ngoài nhà đẹp, độc đáo, phù hợp với sở thích và yêu cầu cá nhân, phù hợp với cảnh quan môi trường đô thị xung quanh, phù hợp với những công nghệ về xây dựng và vật liệu xây dựng tiên tiến nhất, khẳng định được phong cách của riêng chủ nhà.



- Thuê một nhà tư vấn thiết kế cho căn nhà của mình, chủ nhà được gì ? Ngay từ khi ngôi nhà chưa thành hình, họ đã có thể nhìn thấy bằng trực giác, cảm nhận được không gian của căn nhà để có những điều chỉnh thích hợp, tránh những sai sót, khó chịu khi ngôi nhà đã thực sự được xây dựng nên, và rất khó để thay đổi những điểm không phù hợp đó. Chủ nhà còn có thể biết và dự toán được về giá thành của toàn bộ căn nhà, từ tổng thể đến từng chi tiết nhỏ, để điều chỉnh các chủng loại vật liệu sao cho phù hợp, tránh việc phát sinh quá nhiều chi phí trong quá trình xây dựng.



- Ngoài ra, đến với một số đơn vị tư vấn có nghiên cứu về phong thuỷ, chủ nhà còn được tính toán các không gian, bố trí cửa, cầu thang và các đồ đạc hợp với phong thuỷ, để khi ở trong nhà cảm thấy yên tâm, thoải mái, là đòn bẩy cho sự nghiệp và sức khoẻ.



- Khi có ý định xây nhà, chủ nhà nên cung cấp cho người thiết kế những thông tin tóm tắt về gia đình, về mảnh đất và nhu cầu sở thích sử dụng của các thành viên trong gia đình như cần xây nhà mấy tầng, phòng khách diện tích bao nhiêu, phòng bếp có lối đi riêng hay phải thông qua phòng khách, có sử dụng phòng ăn chung với không gian bếp và cần bố trí tối thiểu cho bao nhiêu người, cần có mấy phòng ngủ, có làm thêm phòng trẻ em không?... Bảng liệt kê càng chi tiết tỉ mỉ, người thiết kế càng có cơ sở để hình dung ra điều kiện sinh hoạt của chủ nhà để từ đó dẫn đến giải pháp thiết kế phù hợp.



- Về việc thiết kế nội thất trong căn nhà (bao gồm việc thiết kế trang trí trần, tường, sàn, thiết kế ánh sáng, thiết kế mẫu và kiểu dáng đồ đạc, ...) thực tế chưa cần thiết ngay ở giai đoạn này, nhưng nếu bắt đầu ngay việc thiết kế sớm có thể giúp căn nhà hoàn thiện hơn. Vì nếu sau khi xây dựng xong phần thô căn nhà mới bắt đầu thiết kế nội thất, chuyên gia nội thất cho rằng cần phải phá bỏ mảng tường này, xây thêm mảng tường kia, ... khi đó chi phí để thay đổi sẽ tốn kém nhiều hơn.



Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ xây dựng, lựa chọn nhà thầu xây dựng, nhập vật tư



- Thực hiện xong bước 3, chủ nhà đã có trong tay các thành phần như sau: một bộ hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công chi tiết hoàn chỉnh, một bộ dự toán thi công, giấy cấp phép xây dựng. Đây là cơ sở để tiếp tục tiến hành bước thứ 4 này. Tuy nhiên, nếu còn cảm thấy chưa yên tâm hoàn toàn về chất lượng của các hồ sơ kể trên, chủ nhà có thể tiến hành thủ tục kiểm định, kiểm tra lại các hồ sơ tại các đơn vị chuyên môn.



- Công việc tiếp theo là phải lựa chọn được một nhà thầu xây dựng hợp lý. Hợp lý có nghĩa là phải lành nghề, làm chất lượng tốt, giá cả hợp lý, thời gian thi công nhanh, thực hiện tốt an toàn lao động. Thực tế không phải dễ dàng để lựa chọn được một nhà thầu ưng ý, mặc dù số lượng nhà thầu xây dựng nhà ở tư nhân hiện tại là rất nhiều. Đối với phần lớn chủ nhà, biện pháp thông thường là hay hỏi người quen thân, nhờ họ giới thiệu cho các đội thầu đã được biết tiếng. Biện pháp này khá an toàn, mặc dù không phải lúc nào cũng thành công. Tất nhiên còn nhiều cách khác để tìm kiếm một nhà thầu tốt, nó tuỳ thuộc vào tầm hiểu biết, mối quan hệ và cách làm của mỗi chủ nhà.



- Sau khi lựa chọn được nhà thầu ưng ý, chủ nhà cần chuyển bộ hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công cho nhà thầu xem để họ hiểu về căn nhà, góp ý vào một số chỗ bất hợp lý (nếu có). Nên có một cuộc gặp ba người giữa chủ nhà, nhà thầu và nhà tư vấn thiết kế để có thể trao đổi mạch lạc, dễ hiểu, tạo điều kiện cho công tác khởi công xây dựng được tốt đẹp.



- Căn cứ vào hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công, nhà thầu sẽ dự tính và lên một bảng báo giá thi công chi tiết cho chủ nhà, dựa vào đó, chủ nhà có thể so sánh với bảng dự toán mà đơn vị tư vấn thiết kế lập để so sánh, tránh những hiện tượng bị nâng giá đột biến, gian dối về khối lượng, ...



- Sau khi thống nhất được về báo giá thi công, chủ nhà bắt đầu tiến hành ký kết hợp đồng thi công xây dựng với nhà thầu. Độc giả có thể tham khảo mẫu hợp đồng thi công xây dựng theo thông tư số 2507/BXD-VP ngày 26/11/2007.



- Hiện tại có 03 hình thức hợp tác giữa chủ nhà và nhà thầu, là hình thức xây dựng trọn gói (chìa khoá trao tay), có nghĩa là chủ nhà bàn giao toàn bộ trách nhiệm về vật tư và nhân công xây dựng cho nhà thầu, để nhà thầu làm từ A-Z. Hình thức này được các nhà thầu ưng ý nhất, cũng làm chủ nhà giản tiện được công sức, không phải lo lắng nhiều về công trình của mình, nhưng bù lại, chi phí tốn kém sẽ nhiều hơn.



Hình thức thứ hai, là chủ nhà lo một phần vật tư, nhà thầu lo nhân công và một phần vật tư còn lại. Các phần vật tư chủ nhà lo thường là các thiết bị vệ sinh, thiết bị bếp, gạch ốp lát, sơn bả, thiết bị điện, v.v... Hình thức này được khá nhiều người lựa chọn, với ưu điểm là chủ nhà có thể chủ động trong việc lựa chọn các thiết bị, vật tư mà hình thức là yếu tố chi phối lớn nhất, tránh tình trạng nhà thầu mua không ưng ý, ở hình thức này, chủ nhà cũng đỡ tốn kém chi phí chênh lệch hơn phương thức thứ nhất, tuy nhiên công sức và thời gian phải bỏ ra nhiều hơn.



Hình thức thứ ba, chủ nhà lo toàn bộ vật tư, đội thầu chỉ lo về nhân công. Hình thức này thường chỉ được sử dụng khi chủ nhà có nhiều thời gian rảnh rỗi, và cũng có đôi chút kinh nghiệm về lựa chọn vật liệu xây dựng.



Ưu điểm đương nhiên là chi phí xây dựng sẽ được chủ nhà kiểm soát và khống chế ở mức thấp nhất, nhưng thời gian và công sức phải bỏ ra thì nhiều hơn. Ngoài ra, nếu không có kinh nghiệm, việc mua nhầm phải vật tư kém chất lượng có thể làm chi phí phát sinh nhiều hơn cả chi phí chênh lệch so với việc thuê nhà thầu mua giúp.



- Việc sắm vật tư có thể thực hiện sau bước 6, tuy nhiên hiện nay giá vật liệu xây dựng trên thị trường biến động không ngừng, việc chuẩn bị mua vật tư sớm có thể tránh tình trạng giá cả leo thang, tránh phát sinh chi phí, đồng thời có thể chủ động hơn trong việc tổ chức xây dựng.



- Khi mua vật tư, chủ nhà nên tham khảo bạn bè, người quen, học hỏi kinh nghiệm những người đã từng xây dựng nhà, chọn cho mình một nơi mua vật liệu đáng tin cậy, tránh mua phải hàng kém chất lượng. Trước khi mua nên tham khảo giá cả ở một vài đại lý vật liệu xây dựng và phải thoả thuận cung ứng vật liệu đúng tiến độ, đúng chủng loại, đúng chất lượng. Một ngôi nhà khi xây dựng cần vật liệu xây thô như cát, đá, sỏi, xi măng... trong quá trình bắt đầu xây cho đến khi xây xong phần thô và vật liệu hoàn thiện sử dụng khi hoàn thiện xong ngôi nhà.



- Đối với vật liệu xây thô, yêu cầu kỹ thuật là hơn hết nên không quá cần thiết chọn vật liệu vừa chất lượng lại vừa có hình thức đẹp vì như thế sẽ tốn kém không cần thiết. Ví dụ xây móng nhà thì không nhất thiết phải chọn gạch xây dựng loại A, mà nên chọn gạch loại C vì gạch nung chín quá già, từng phần bị hoá sành, chịu nén tốt lại rất thích hợp cho móng của những ngôi nhà trên mảnh đất trũng. Còn đối với vật liệu hoàn thiện thì bên cạnh việc xem xét chất lượng cũng đừng bỏ qua hình thức của nó vì lớp vật liệu hoàn thiện này sẽ là "bộ mặt" cho ngôi nhà sau này. Gạch ốp, lát nền và tường có nhiều chủng loại và kiểu dáng khác nhau.



- Thêm một vấn đề nữa là chủ nhà nên tìm cho mình một người giám sát công trình. Đây là người sẽ trực tiếp quản lý về tiến độ và chất lượng của nhà thầu, tránh tình trạng làm gian dối, ăn bớt, chất lượng kém. Người giám sát này hoặc là người thân trong gia đình, nhưng phải có kinh nghiệm về xây dựng, hoặc là một công ty chuyên môn về xây dựng.



- Cũng trong giai đoạn này, chủ nhà cần làm một số công tác đối với hàng xóm, dân cư trong khu vực. Cụ thể nên sang nói chuỵên, xin phép về việc khởi công sắp tới, nhờ họ tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình xây dựng. Đồng thời cũng nên thẳng thắn đề nghị kiểm tra hiện trạng của các căn nhà trong khu vực xung quanh, để khi xây dựng, nếu làm ảnh hưởng đến nhà họ (rạn nứt kết cấu, lún sụt nhà,...) thì có cơ sở cụ thể để thương lượng đền bù, cũng tránh được tình trạng "đục nước béo cò", có thể tình hình xuống cấp, hư hỏng nhà họ xảy ra trước khi nhà của mình được xây, nhưng mình vẫn phải chịu trách nhiệm,...



Bước 5: Các thủ tục cúng lễ chuẩn bị khởi công



- Theo ông bà ta xưa làm nhà là một trong những việc quan trọng nhất của một đời người. Để những người sống trong ngôi nhà mới xây cất được khỏe mạnh, gặp mọi sự may mắn tốt lành thì khi tiến hành làm nhà nhất thiết phải tuân thủ một số nghi thức quy định về mặt phong thuỷ, chọn ngày tốt (Hoàng đạo, Sinh khí, Lộc mã, Giải thần. ...) tránh ngày xấu (ngày Hắc đạo, Sát chủ, Thổ cấm, Trùng tang, Hùng phục.....) và phải chọn giờ Hoàng Đạo để làm lễ động thổ (lễ cúng Thần Đất) để xin được làm nhà trên mảnh đất đó.



- Trước tiên, cần phải xem tuổi của chủ nhà. Việc chủ nhà được tuổi xây dựng có thể giúp cho quá trình xây dựng được thuận lợi, tốt đẹp, ngôi nhà đưa vào sử dụng bền vững.



- Tuy nhiên, nếu tuổi của chủ nhà không phù hợp để xây dựng vào năm hiện tại, nhưng nhu cầu ở là cấp thiết, thì có thể tiến hành thủ tục mượn tuổi. Trước tiên tìm người hợp tuổi cũng bằng công cụ trên, nếu được nên là những người đứng tuổi, thọ, phúc lộc dồi dào, con cháu đông, sau đó tiến hành thủ tục mượn tuổi. Tuy nhiên cần nhớ rằng, việc mượn tuổi để xây nhà là một biện pháp thiên nhiều về tâm lý, mọi chuyện tốt xấu sẽ vẫn xảy ra với chủ nhà chứ không phải vì mượn tuổi mà xảy ra với người kia.



Ngoài ra, thời điểm khởi công còn phụ thuộc nhiều vào tiết khí và trạch mệnh (tức giờ, ngày, tháng khởi công). Nếu chọn được ngày, giờ đẹp thì việc ảnh hưởng có thể giảm đi nhiều. Chủ nhà cũng có thể nhờ một người nào đó trong gia đình hay bạn bè (có tuổi không phạm vào kỵ năm nay thay mặt trong lúc quan trọng như đổ móng, đổ trần...). Tốt nhất là nên mời một thầy phòng thủy về xem xét và tiến hành làm lễ giải hạn.



- Sau khi đã lựa chọn được ngày giờ khởi công hợp lý, cần tổ chức lễ động thổ. Trong lễ động thổ ngày xưa phải cúng tam sinh, ngày nay đơn giản hơn, nhưng phải là con gà, đĩa xôi, hương, hoa quả, vàng mã... Sau khi làm lễ gia chủ là người cầm cuốc bổ những nhát đầu tiên, trình với Thổ thần xin được động thổ, tiếp sau đó, mới cho thợ đào. Trước khi khấn phải thắp nén nhang vái bốn phương, tám hướng rồi quay mặt vào mâm lễ mà khấn.



Bước 6: Chuẩn bị mặt bằng, làm nền móng



- Từ bước 6 này, công việc sẽ là trách nhiệm của nhà thầu xây dựng, chủ nhà sẽ không cần phải lo toan nhiều, tuy nhiên cũng cần biết rõ về các giai đoạn chủ yếu để có thể kiểm soát được về công việc, chất lượng và thời gian thi công.



- Việc chuẩn bị mặt bằng bao gồm việc làm sạch, phát quang mặt đất, giải toả nhà và kết cấu xây dựng cũ, vận chuyển phế thải đổ đi. Sau khi chuẩn bị mặt bằng, đội thợ bắt đầu vào công tác làm nền móng. Việc làm nền bao gồm các công việc: đào đất, hút nước ngầm, đổ đất thừa, be thành đất, gia cố nền (nếu cần thiết). Việc gia cố nền hiện tại có hai hình thức chủ yếu là ép cọc tre hoặc ép cọc bê tông. Cọc tre thường là các đoạn tre dài 2-2,5m, ép bằng búa tạ xuống nền đất với mật độ khoảng 30 cọc/m2. Mục đích của việc ép cọc tre là làm nén chặt phần nền đất dưới chân công trình, tạo một điểm tỳ cho phần móng nhà.



- Đối với các khu đất làm trên ao hồ lấp, để đảm bảo an toàn, cần thực hiện việc khoan ép cọc bê tông cốt thép. Cọc bê tông cốt thép cho nhà dân thường là loại có tiết diện 200x200 hoặc 250x250, mỗi đoạn dài từ 2-3m, bao gồm một đoạn thân và một đoạn mũi cọc.



Các cọc bê tông này thường được đổ sẵn, vận chuyển đến công trường bằng xe tải, sau đó dùng máy ép cẩu lên và ép xuống đất. Có hai loại máy ép cọc là máy ép neo và máy ép tải. Ép neo đạt tải trọng thấp (khoảng 20 - 40 tấn/đầu cọc), phù hợp với các công trình quy mô nhỏ, ép tải đạt tải trọng cao hơn (trên 40 tấn/đầu cọc), phù hợp với các công trình quy mô lớn hơn.



Lưu ý là các loại máy ép thường sử dụng công suất điện 3 pha, nên chủ nhà cần lưu ý chuẩn bị sẵn nguồn điện cho nhà thầu. Khi làm hợp đồng ép cọc bê tông, chủ nhà cần làm rõ với nhà thầu về các thông số cọc như mác bê tông, chủng loại thép, ... vì các cọc được đúc sẵn nên dễ bị làm gian dối nhằm mục tiêu trục lợi. Khi vận chuyển cọc đến chân công trình, chủ nhà cần tiến hành kiểm tra tại hiện trường chất lượng của bê tông và thép theo hình thức ngẫu nhiên để tránh trường hợp cọc không đủ tiêu chuẩn làm ảnh hưởng đến chất lượng của công trình xây dựng. Khi ép cọc xuống đất, do địa chất nền đất không đồng đều, nên có chỗ cọc xuống sâu, chỗ xuống nông, nên xảy ra hai tình huống là ép âm và ép dương.



Cần làm rõ giá cả với nhà thầu trong mỗi tình huống ép âm hoặc ép dương. Chủ nhà cũng cần buộc nhà thầu làm theo các tiêu chuẩn đã quy định cụ thể trong hồ sơ thiết kế nền móng do bên tư vấn xây dựng cung cấp, như chủng loại cọc, vị trí cọc, số lượng cọc, cọc ép thử, ...



- Một lưu ý về việc ép cọc bê tông nói riêng và việc làm móng nói chung là các công việc khoan ép vào lòng đất rất dễ gây ảnh hưởng đối với các khu đất và nhà cửa lân cận. Nên thực hiện hướng ép cọc theo chiều sao cho phần đất bị nén đẩy không hướng về bất kỳ nhà cửa hay vật kiến trúc nào. Cụ thể chủ nhà nên tham vấn ý kiến của người có chuyên môn.



- Việc làm móng nhà được thực hiện sau khi việc gia cố nền đất hoàn thành. Móng nhà hiện tại thường là móng băng, móng bè hoặc móng cọc. Đối với trường hợp ép cọc bê tông, thì đổ các đài móng để liên kết các đầu cọc, các đài móng lại liên kết với nhau thành một hệ khung vững chắc thông qua các dầm móng. Việc làm móng bao gồm các công việc sau theo thứ tự: đan thép, ghép cốp pha, đổ và đầm bê tông, chờ bê tông ngưng kết, rút cốp pha, xây tường móng. Đây là công việc của nhà thầu, tuy nhiên chủ nhà nên phối hợp với giám sát công trình, theo dõi và chỉ đạo thợ thực hiện theo đúng bản vẽ kỹ thuật.



Bước 7: Xây dựng phần khung nhà



- Thời điểm kết thúc phần nền móng cũng là thời điểm bắt đầu việc xây dựng phần khung nhà. Khung nhà được hiểu là bao gồm toàn bộ hệ khung kết cấu bê tông cốt thép và hệ thống tường bao, tường ngăn chia của nhà. Hiện nay, mặc dù công nghệ xây dựng đã đi khá xa, nhiều loại vật liệu mới ra đời, nhưng bê tông, cốt thép và gạch vẫn là những vật liệu xây dựng chủ yếu và phổ dụng nhất.



- Một hệ khung nhà bao giờ cũng bao gồm 5 thành phần chính: cột nhà (để truyền lực xuống đất), dầm nhà (hay đà, dùng để kết nối và truyền lực xuống các đầu cột), bản sàn (hay tấm, được đổ gối lên các hệ dầm, là nơi nâng đỡ các vật thể trong nhà), tường nhà (gồm tường bao và tường ngăn chia, được xây bằng gạch), và cầu thang, là bộ phận kết nối giữa các tầng nhà.



Việc thực hiện xây dựng phần khung nhà cũng như khi làm móng bao gồm các công việc chính là: đan thép, ghép cốp pha, đổ và đầm bê tông, chờ bê tông ngưng kết, rút cốp pha, xây tường. Công việc này không đơn giản nhưng cũng chẳng phức tạp, chỉ cần lưu ý một số điểm chính như sau:



- Việc đan thép phải theo đúng chỉ định của bản vẽ kết cấu, đúng chủng loại và độ dài của các cấu kiện thép. Khi đan cần lưu ý tránh dẫm lên thép làm xô lệch thép làm giảm sức chịu tải. Nên có các cầu thép đặt lên trên kết cấu khi tiến hành đổ bê tông tránh làm xô lệch thép đan.



- Việc ghép cốp pha cần thực hiện theo đúng quy chuẩn xây dựng, gỗ cốp pha không được lựa chọn loại gỗ quá kém phẩm chất, có thể bị bục vỡ trong quá trình đổ đầm bê tông. Kết nối các cốp pha thật chặt và gọn gàng.



- Việc đổ đầm bê tông có thể thực hiện thủ công bằng máy trộn bê tông, cũng có thể thực hiện bằng xe trộn bê tông chuyên dụng, bơm bê tông bằng vòi bơm. Quá trình trộn cần lưu ý đúng tỷ lệ giữa cốt liệu và chất kết dính, sao cho hỗn hợp bê tông đảm bảo đúng tiêu chuẩn. Khi đầm bê tông lưu ý phải đầm đều tay, không được bỏ sót bất kỳ chỗ nào.



- Việc rút cốp pha cần lưu ý sao cho thời gian ngưng kết của bê tông phải đủ ngày, không nên vì tiến độ gấp gáp mà rút cốp pha sớm, gây ra nhiều tai nạn sập bê tông đáng tiếc.



- Việc xây tường cần lưu ý xây làm sao cho thẳng, mạch đều. Trong quá trình xây cần liên tục kiểm tra độ thẳng bằng quả dọi. Vữa xây cần trộn đúng tỷ lệ, đảm bảo độ kết dính và chống nước thẩm thấu qua.



Bước 8: Giai đoạn hoàn thiện



- Kết thúc phần khung nhà (phần thô), là coi như đã đi được 70% cuộc hành trình. Tiếp theo là giai đoạn hoàn thiện, tuy nhẹ nhàng hơn nhưng lại đòi hỏi nhiều hơn về mặt kỹ thuật, thẩm mỹ.



- Giai đoạn hoàn thiện bao gồm các công đoạn: trát tường, láng sàn, ốp lát gạch, sơn bả tường, lắp đặt hệ thống kỹ thuật điện, cấp thoát nước, điện thoại, chống sét, ... Đây cũng là công việc của các nhà thầu, tuy nhiên cần lưu ý một số điểm như sau:



- Công tác trát tường, láng sàn: cần trộn vữa theo đúng tỷ lệ quy định trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật. Ở các diện tường, trần, sàn tiếp xúc nhiều với nước, không khí ẩm như tường bao ngoài trời, tường giáp vệ sinh, bếp, tiểu cảnh, sàn nhà tầng 1, ... có thể cần phải trộn vào trong vữa một hỗn hợp chống thấm nhất định. Sau khi trát, láng vữa xong cần cán thẳng. Chủ nhà phải kiểm tra độ phẳng cũng như chất lượng vữa trước khi bắt đầu các công tác sơn bả.



- Việc ốp lát gạch thì phải theo đúng tiêu chuẩn quy định của nhà sản xuất. Mạch gạch cần đều, các viên gạch thẳng nhau, không được xô xệch, nghiêng ngả.



- Công tác sơn bả là một công tác đơn giản, nhưng không phải ai cũng làm được một cách hoàn hảo. Hiện nay trên thị trường có nhiều chủng loại, nhãn hiệu sơn trang trí khác nhau, xét về tính dung môi có thể chia làm hai loại: sơn gốc nước và sơn gốc dầu.



Sơn nước được sủ dụng phổ biến hơn với ưu điểm tiện dụng và không gây độc hại cho sức khoẻ và môi trường, màng sơn cho phép lượng hơi ẩm nhất định bên trong tường thoát ra ngoài mà không gây phồng rộp. Trong khi đó sơn dầu chủ yếu dùng cho bề mặt gỗ và kim loại. Xét về chức năng sủ dụng chia làm hai loại: sơn trong nhà có đặc tính khả năng chùi rủa, vệ sinh, bề mặt nhà mịn còn sơn ngoài trời có đặc tính chống rêu mốc, bám bụi, chống thấm và bền màu.



Hệ thống sơn trang trí bao gồm 03 lớp: lớp ma-tít làm phẳng bề mặt cần sơn, cần lưu ý chọn loại bột bả tường tốt có độ bám dính cao vì chất lượng sơn sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lớp này. Thứ hai là lớp sơn lót giúp ngăn chất kiềm trong tường thoát ra ngoài làm hỏng màng sơn, cuối cùng là lớp sơn phủ có tác dụng bảo vệ và trang trí



- Công tác lắp đặt điện, nước và các hệ thống kỹ thuật: cần tuân thủ theo đúng bản vẽ kỹ thuật và hệ thống tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam. Nên chú trọng vào độ bền vững và an toàn của các hệ thống này, ví dụ như hệ thống cấp điện cần cầu dao an toàn, các đường dây chờ cho máy phát điện sau này, độ dốc của các đường ống thoát nước phải đủ tiêu chuẩn, hệ thống chống sét an toàn, các đường dây cần đi trong ống bảo vệ tránh bị ẩm chập điện, ...



Bước 9: Sản xuất, lắp đặt nội thất



- Giai đoạn sản xuất đồ nội thất thực ra có thể bắt đầu ngay từ khi khởi công công trình, nếu như chủ nhà thực hiện phần thiết kế nội thất cùng với phần thiết kế xây dựng căn nhà. Như vậy khi hoàn công phần xây dựng thì phần nội thất cũng đã có thể sản xuất xong xuôi để tiến hành lắp đặt. Nếu như đến giai đoạn này mới bắt đầu việc thiết kế nội thất thì thời gian chờ có thể phải kéo dài khá lâu. Vì đối với đồ gỗ tự nhiên như các phần cửa, cầu thang, tủ bếp, bàn ghế, giường tủ phải có một thời gian nhất định để ngâm tẩm, sấy khô các cấu kiện gỗ, đảm bảo cho đồ đạc một độ bền nhất định. Đối với đồ gỗ công nghiệp, thời gian chờ sẽ nhanh hơn do không phải trải qua giai đoạn ngâm tẩm, sấy khô nhưng thời gian đợi cũng là không ít.



- Hiện nay đối với gỗ tự nhiên người ta thường sử dụng chủ yếu là các loại gỗ lim, xoan đào, nghiến, dổi, pơmu, chò chỉ, thông, ... gỗ công nghiệp thì sử dụng các chất liệu MDF, MFC, tech, gỗ ván ép, ... Nói chung tuỳ vào nhu cầu và sở thích mà có thể lựa chọn gỗ tự nhiên hoặc gỗ công nghiệp, hoặc dùng kết hợp cả hai.



- Đồ nội thất cũng có thể mua sẵn trên thị trường tại các showroom về đồ nội thất, tuy nhiên các đồ mua sẵn được thông thường chỉ là: sofa, giường, bàn ăn. Các đồ đạc khác như tủ bếp, tủ quần áo, tủ sách, tủ ti-vi, bàn làm việc, ... thường khó mua sẵn hơn, vì nếu mua sẵn rất khó hợp với khung nhà. Trường hợp này nên sử dụng đồ gia công sẽ phù hợp hơn.



- Phần nội thất ở đây ngoài đồ gỗ còn bao gồm các mảng trang trí, tiểu cảnh, trần giả, sàn gỗ, ... Đây là những hạng mục đòi hỏi độ tỉ mỉ, cầu kỳ, trau chuốt từng đường nét, là cơ sở để đánh giá trực giác về chất lượng căn nhà. Do vậy chủ nhà cần phải cẩn thận hơn trong công tác giám sát, kiểm tra, nghiệm thu các hạng mục này.



Kết thúc vấn đề: Những vấn đề tôi đã trình bày trên đây chỉ là rất sơ lược về quá trình xây dựng một căn nhà. Thực tế sẽ còn rất nhiều việc phát sinh, khó khăn cần phải giải quyết. Tôi chỉ hy vọng những vấn đề này giúp ích phần nào cho độc giả trong việc giải quyết các khó khăn ấy.



Cuối cùng, xin chúc quý độc giả may mắn và thuận lợi trong công việc xây dựng nhà ở cho mình, một công việc không hề đơn giản !

Thép-Công Trình Sai Gon Pearl

7:33 SA |
Công trình Sai Gon Pearl do COFICO thi công. Khu dân cư này nằm ven sông Sài Gòn với cảnh quan rất đẹp. Giai đoạn 1 của dự án sẽ xây dựng 6 block.





Tòa tháp đôi Topaz (block 3 và 4) đã xong phần thô, bước vào giai đoạn hoàn thiện.



Lớp tham quan chi tiết tòa tháp Sapphire (block 5 và 6) đang thi công phần ngầm.





Đặc điểm dễ nhận thấy ở công trình này là thép bố trí rất dày đặc. Công trình này được thiết kế chống động đất.



Vị trí dầm giao với dầm:





Vị trí dầm giao với cột. Các bạn có để ý thấy 3 cây cốt thép cột được buộc chung thành 1 bó không. Các kỹ sư làm như thế để tăng khoảng thông thủy giữa các bó cốt thép đấy. Tất nhiên, việc tính toán cốt thép sẽ khác đi đôi chút so với bố trí các thanh cốt thép rời.



Đây là hình ảnh cốp pha chống thành bể nước.





Phía trên sàn tầng hầm, công nhân đang cưa cắt cốp pha sàn.







Nhìn từ bên dưới sẽ thấy hệ giàn dáo của sàn tầng hầm



Kỹ Thuật Thiết Kế Cầu Thang - 3

12:01 SA |
         Làm thế nào để tạo ra những chiếc cầu thang có thiết kế hiện đại mà vẫn đảm bảo kỹ thuật?



Điều đó có nghĩa là cầu thang phải tạo ra sự thoải mái. Leo cầu thang không làm mọi người cảm thấy mệt mỏi. Chiều cao lý tưởng cho mỗi bậc là 20cm. Tất nhiên chiều cao đó có thể dao động không nhiều nhưng nếu lớn hơn 25cm mỗi bậc sẽ khiến bạn “vất vả”.



Chiều rộng của mỗi bậc ít nhất là 25cm để đảm bảo an toàn cho từng bước chân của bạn. Chiều dài tối thiểu tạo sự thoải mái tối thiểu là 0,9 đến 1 mét.



Trong một dài cầu thang kích thước của mỗi bậc phải tương đương. Vì vậy, ngay từ lúc bắt đầu thiết kế phải tính toán kỹ lưỡng. Ví dụ khoảng cách giữa hai tầng là 3m. Chiều cao của mỗi bậc là 20 cm. Vậy bạn cần là 300/20 = 15 bậc.



Bước tiếp theo bạn cần tính toán độ rộng của cầu thang. Nếu chiều rộng là 25 thì tổng diện tích không gian là 25 x 15 = 3,7 m. Mỗi m không gian cần là 1 x 3,7m = 3,7 m2. Giả thiết này là hình dạng của cầu thang thẳng ở bức hình trên.



Các hình dạng khác



Hình dạng của cầu thang không nhất thiết phải là một đường thẳng. Nó có thể là hình chữ L hay chữ U. Bức hình trên đây là hình chữ L. Bạn có thể tạo ra hình ảnh về độ cao cũng như kế hoạch bản vẽ để đảm bảo không có sơ suất khi thi công dù chỉ là một lỗi nhỏ. Ví dụ khoảng cách giữa hai tầng là 2,85 m.





Số bước là 15. Ở bức tranh thứ nhất, không gian yêu cầu là 2,08 m x 3,275m trong khi ở bức tranh thứ hai không gian đó là 2,85 x 2,1m.



Hãy nhớ lại một lần nữa nếu chiều cao giữa hai tầng là 3m thì số bậc và không gian cần và đủ cũng sẽ thay đổi.



Cầu thang và tầng lửng



Cầu thang hình chữ U có thể thiết kế thêm tầng lửng. Đó là khoảng không giữa tầng 1 và tầng 2. Tầng lửng là điểm dừng trong giây lát trong ngôi nhà. Bạn có thể đặt phòng khách của gia đình ở đây. Gác lửng và cầu thang là sự kết hợp hoàn hảo cho những ngôi nhà có khoảng không nhỏ nhưng nhu cầu sử dụng lớn.



Cầu thang hiện đại và ánh sáng


Cầu thang hợp phong thủy cần có đủ ánh sáng từ tầng 2. Nếu không nó sẽ ẩm ướt và tối. Bạn cần tính toán sao cho dải cầu thang có đủ ánh sáng. Để làm được điều đó, hãy đặt những ô cửa sổ bằng kính trên tường hoặc tấm lợp thủy tinh trên mái nhà.



Cầu thang và nội thất



Trong tay một kiến trúc sư tài ba, cầu thang không chỉ đảm nhận chức năng của nó mà còn thể hiện tính thẩm mĩ.



Nguồn: Sưu Tầm

Mẫu Cầu Thang 2010

11:45 CH |


Cầu thang chính là điểm nhấn của căn nhà, luôn tạo cảm giác thoải mái vững chắc. Từ trên xuống, dưới lên hay ở bất cứ vị trí nào, cầu thang đều cho cảm giác về đường cong mềm mại, phá đi vẻ vuông vức hình hộp của một ngôi nhà ống. Cầu thang lượn tròn, cầu thang vuông...là những style cho năm 2010.























Nguồn: Sưu Tầm